Biosmark
Biosmark
NgânLượng.vn – Ví điện tử&Cổng thanh toán trực tuyến AN TOÀN bằng thẻ các ngân hàng trong & ngoài nước; Được bảo hộ & cấp phép bởi NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM; Ví điên tử DUY NHẤT được cộng đồng bình chọn ƯA THÍCH NHẤT 2 năm liên tiếp
Biosmark Hướng dẫn mua hàng
 
Cây thuốc Việt Nam
TANG PHIÊU TIÊU
Tên thuốc: Cotheca Mantidis. Tên khoa học: Ootheca Mantidis
NGỌC TRÚC
Ngọc trúc dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh với tên Nữ ủy, là thân rễ phơi hay sấy khô của cây Ngọc trúc( Polygonatum officinale All.) hay ( Polygonatum odoratum (Mill.) Druce). Vì lá giống lá trúc, thân rễ bóng nhaün trông như ngọc nên có tên Ngọc trúc, họ Hành tỏi ( Liliaceae). Cây này mọc nhiều ở các tỉnh Quảng đông, Quảng tây, Vân nam Trung quốc nên tại các tỉnh biên giới của ta có thể có, nhưng ta chưa khai thác.
THƯƠNG TRUẬT
Sơn tinh (Bảo Phác Tử), Địa quỳ, Mã kế, Mao quân bảo khiếp, Bảo kế, Thiên tinh Sơn kế, Thiên kế, Sơn giới (Hòa Hán Dược Khảo), Xích truật (Biệt Lục), Mao truật, Chế mao truật, Kiềm chế thương truật (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
KÉ ĐẦU NGỰA
Tên khác: Thương nhĩ tử , Xương nhĩ, Thương nhĩ, Phắc ma, Mac nháng (Tày). Tên khoa học: Xanthium strumarium L. (Tên đồng nghĩa Xanthium japonicum Widder), họ Cúc (Asteraceae).
HUYỀN SÂM
Huyền sâm còn gọi là Hắc sâm, Nguyên sâm là rễ của cây Huyền sâm (Scrophularia ningpoensis Hemsl). Theo tài liệu của Giáo sư Đỗ tất Lợi Huyền sâm có tên khoa học là Scrophularia buergeriana Miq và Scrophularia Oldhami Oli. Thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae). Vị đắng mặn, tinh hàn, qui kinh Phế, Vị, Thận. Lôi công bào chế dược tính: qui kinh Tâm, Phế, Thận. Bản thảo tân biên: qui kinh Tỳ, Thận, Vị.
BẠCH TẬT LỆ
Tên thuốc: Fructus Tribuli. Tên khoa học: Tribulus terrestris L.
CÔN BỐ
Côn bố dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Danh y biệt lục là toàn cây khô của một loài tảo có thân hình dẹt, tên thực vật học là Laminaria japonica Aresch thuộc họ Côn bố (Laminariaceae), hoặc một loài tảo khác có tên là Ecklonia kurome Okam, thuộc họ Tảo có cánh (Alariaceae), hoặc của một loại tảo Undaria pinnatifide (Harv.) Suring cùng thuộc họ Tảo có cánh (Alanaceae). Vị thuốc này ta chưa thấy có khai thác, còn nhập của Trung quốc. Côn bố mọc hoang ở các vùng biển Liêu ninh, Sơn đông, Phúc kiến. Theo những tài liệu cũ, ở ven biển nước ta có thể có loài Côn bố Laminaria flexicaulis nhưng chưa khai thác. Vào hai mùa hạ và thu, người ta vớt Côn bố ở biển lên, nhặt bỏ tạp chất, ngâm nước rửa sạch để héo, cắt nhỏ thành sợi phơi khô để dùng.
HẢI TẢO
Hải tảo tức rong biển còn gọi là Rau mã vĩ, rau ngoai, rong mơ. Dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh là toàn thân tảo rửa sạch, phơi hay sấy khô của nhiều loại tảo khác nhau như Hải khao tử Sargassum pallidum (Turn.) C Ag; Dương thê thái S.fusiforme (Harv.) Setch đều thuộc họ Rong mơ (Sargassaceae). Loại trước là Hải tảo lá to, loại sau là Hải tảo nhỏ lá. Rong biển mọc hoang khắp bờ biển nước ta, thường bám vào những dãy đá ngầm ven biển, nhiều nhất là ở vùng biển Vĩnh linh, Nghệ an, Hà tĩnh, Thanh hóa, Nam hà, Thái bình, Quảng ninh. Đến mùa hè thu hái rong biển đem về bỏ tạp chất, rửa sạch phơi cho héo cắt nhỏ phơi khô làm thuốc.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12