Biosmark
Biosmark
NgânLượng.vn – Ví điện tử&Cổng thanh toán trực tuyến AN TOÀN bằng thẻ các ngân hàng trong & ngoài nước; Được bảo hộ & cấp phép bởi NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM; Ví điên tử DUY NHẤT được cộng đồng bình chọn ƯA THÍCH NHẤT 2 năm liên tiếp
Biosmark Hướng dẫn mua hàng
 
BỆNH VỀ XƯƠNG KHỚP
Biến chứng cơ xương khớp do tiểu đường

Ðái tháo đường là một bệnh chuyển hóa ngày càng phổ biến và gia tăng nhanh. Các biến chứng do đái tháo đường gây ra ở nhiều cơ quan trên cơ thể là điều khiến bác sĩ và bệnh nhân cùng lo ngại, trong đó có các biến chứng trên cơ xương khớp (CXK).

Bệnh nhân tiểu đường cần tập luyện, kiểm tra đường huyết thường xuyên để phòng tránh biến chứng cơ xương khớp, đặc biệt vùng bàn tay, bàn chân,...

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) góp phần thúc đẩy bệnh ở hệ xương khớp xuất hiện sớm hơn, nặng hơn hoặc tiến triển nhanh hơn. Mặt khác, mật độ xương của bệnh nhân ĐTĐ thấp hơn 20-30% so với người bình thường. Do đó, những biến chứng của ĐTĐ có ảnh hưởng rất nhiều tới vấn đề xương khớp. Bệnh thường tiến triển âm thầm, lúc đầu người bệnh chỉ có cảm giác khó khăn khi co duỗi ngón tay cho đến khi ngón tay hoàn toàn cong gập và đau buốt. Tổn thương gây xơ hóa và co rút cũng có thể xảy ra ở bàn chân và thể hang bộ phận sinh dục nam. Những biến chứng của bệnh tiểu đường ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh do những tác hại của nó đến khả năng lao động, nhu cầu sinh hoạt, cũng như về thẩm mỹ, tinh thần... Việc điều trị các bệnh cơ khớp này rất khó khăn. Các biến chứng cơ xương khớp của bệnh nhân bệnh ĐTĐ thường do tổn thương thần kinh và mạch máu kết hợp với sự suy giảm đề kháng giúp cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn. Do tổn thương thần kinh và mạch máu làm cho người bệnh giảm cảm giác ở những vùng tổn thương nên lại càng chủ quan dẫn đến biến chứng càng nặng nề hơn.

Một số bệnh CXK ở bệnh nhân ÐTÐ

Biến chứng ở gân cơ:

Hội chứng ống cổ tay, ống cổ chân: Người bệnh có triệu chứng tê ở bàn tay hoặc bàn chân. Cảm giác tê càng tăng lên khi bệnh nhân đứng trong một số tư thế như: buông thõng tay (hay chân), gập vùng cổ tay, cổ chân trong nhiều giờ liền. Đau tăng lên khi bệnh nhân phải gấp duỗi cổ tay như cầm sách, báo, đánh máy chữ, lái xe, sử dụng dao, đũa... Hội chứng này gặp trong 20% bệnh nhân ĐTĐ.

Bệnh nhân ĐTĐ cần chăm chỉ tập luyện để tránh biến chứng.

Hội chứng bàn tay cứng: Hay hội chứng hạn chế vận động khớp với biểu hiện da tay bị dày lên, xơ cứng gần giống như bệnh xơ cứng bì. Hạn chế vận động khớp biểu hiện bằng các ngón tay không thể gấp và duỗi hết tầm vận động bình thường, xơ hóa các bao gân duỗi và gấp ngón tay. Ở mức độ nặng hơn, bệnh nhân không thể áp sát 2 lòng bàn tay vào nhau. Hội chứng này gặp khoảng 1/3 bệnh nhân ĐTĐ typ 1.

Hội chứng Dupuytren: Các gân gấp ở lòng bàn tay cũng dày lên do tình trạng xơ hóa, co rút (bệnh Dupuytren) khiến bàn tay và các ngón bị co rút, cong quặp lại như bàn chân chim, thường gặp ở ngón đeo nhẫn nhưng có khi lan rộng sang ngón trỏ. Nguyên nhân là do các chấn thương rất nhỏ, kín đáo, xảy ra trên người bị ÐTÐ có sẵn biến chứng mạch máu nhỏ, các tổn thương ở gân trở thành sẹo xơ và làm cho gân rút lại dần. Hội chứng này thường gặp ở 25% bệnh nhân ĐTĐ.

Hội chứng ngón tay lò xo (ngón tay cò súng): Một dạng bệnh lý khác tương tự như bệnh Dupuytren nhưng đáp ứng khá tốt với các phương pháp điều trị bảo tồn hoặc phẫu thuật là bệnh lý ngón tay cò súng (hay còn gọi là ngón tay lò xo). Đây là một biến chứng khá thường gặp do viêm bao gân gấp ngón tay. Bệnh nhân có cảm giác ngón tay như bị khóa cứng lại không thể duỗi ra bình thường được mà phải cố gắng bật mạnh ra hoặc lấy ngón tay khác bẻ ra. Ngón tay bị co gấp như hình cò súng, vì bệnh nhân không thể tự mở bung ngón tay ra một khi đã cố gắng gập vào. Lúc gấp hay mở ngón tay, bệnh nhân có cảm giác như phải vượt qua nút chặn như khi bóp cò súng.

Biến chứng ở khớp và tổ chức quanh khớp:

Hội chứng khớp vai đông cứng: Hay co rút khớp vai với triệu chứng hạn chế gần như hoàn toàn biên độ vận động của khớp vai, nhất là các động tác dạng và xoay vai. Triệu chứng đau thường nhẹ và không tương xứng khiến cho bệnh nhân hạn chế vận động. Đây là hội chứng thường gặp ở khoảng 20% bệnh ĐTĐ.

Hội chứng vai tay: Còn gọi là hội chứng đau loạn dưỡng thần kinh phản xạ (hội chứng Sudeck) có thể gặp và thường phối hợp với hội chứng đông cứng khớp vai. Người bệnh đau lan tỏa từ trên vai lan xuống đến bàn, ngón tay, đau rất nhiều kèm theo rối loạn vận mạch (tay sưng phù, da đỏ, tím...) và thiểu dưỡng cơ, teo cơ nếu ở giai đoạn muộn.

Viêm điểm bám gân vôi hóa cũng hay gặp, tỷ lệ bệnh gấp 3 lần người bình thường không mắc bệnh ĐTĐ với biểu hiện đau vai rất đột ngột, dữ dội, hạn chế vận động khớp nhiều.

Người bệnh ÐTÐ cần phòng biến chứng CXK

Bệnh ĐTĐ gây ra rất nhiều biến chứng đối với bộ máy vận động, làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống. Các biến chứng khớp của bệnh ĐTĐ rất nguy hiểm, vì vậy cần phải phòng tránh ngay từ giai đoạn đầu của bệnh.

Hội chứng bàn tay cứng hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường.

Ổn định đường huyết là yếu tố quyết định trong việc phòng ngừa các biến chứng cơ xương khớp ở bệnh nhân ĐTĐ. Có nghĩa là bệnh nhân phải kết hợp các biện pháp điều trị (thuốc, chế độ ăn uống và sinh hoạt, kiểm soát cân nặng) một cách bài bản và hiệu quả. Từ bỏ các thói quen có hại trong ăn uống, sinh hoạt, lối sống: ăn nhiều đồ ngọt, làm quá sức hoặc quá lười, vệ sinh kém, uống rượu, hút thuốc... Hãy chăm chỉ vận động, có chế độ ăn kiêng hợp lý và kiểm tra đường huyết thường xuyên để tránh gặp những biến chứng không đáng có. Tập các bài tập cho bàn tay, bàn chân, đảm bảo lượng máu cần thiết được tuần hoàn đến tay chân đầy đủ. Nếu thấy bàn tay có các biểu hiện bất thường như tê bì, khó co duỗi các ngón, sưng đau, đổi màu da... người bị bệnh ĐTĐ cần đi khám bác sĩ ngay để điều trị kịp thời.

Bàn chân cũng cần được chăm sóc một cách đặc biệt: Luôn giữ bàn chân sạch sẽ, khô ráo. Thường xuyên quan sát và kiểm tra bàn chân để kịp thời phát hiện những tổn thương dù nhỏ (nốt chai, trầy xước, sưng, đau...). Không đi chân đất dù ở trong nhà. Mang giày dép vừa vặn, êm ái, mềm mại và phù hợp. Đến bác sĩ chuyên khoa nội tiết hay khớp ngay khi phát hiện những bất thường.

Nguồn tin:    Theo Sức khỏe và Đời sống
Các bài khác