Biosmark
Biosmark
NgânLượng.vn – Ví điện tử&Cổng thanh toán trực tuyến AN TOÀN bằng thẻ các ngân hàng trong & ngoài nước; Được bảo hộ & cấp phép bởi NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM; Ví điên tử DUY NHẤT được cộng đồng bình chọn ƯA THÍCH NHẤT 2 năm liên tiếp
Biosmark Hướng dẫn mua hàng
 
BƯỚU CỔ
Bướu cổ - Nguyên nhân và cách điều trị

1. TUYẾN GIÁP TRẠNG


a. Tuyến giáp trạng

Tuyến giáp trạng nằm ngay dưới thanh quản và ở phía dưới khí quản, gồm hai thùy trái và phải. Ở những người trưởng thành tuyến giáp nặng 20 - 25g.

Tuyến giáp gồm những đơn vị cấu tạo được gọi là nang giáp, có đường kính khoảng 100 - 300 micromet. Những nang này chứa đầy các chất bài tiết được gọi là các chất keo trong lòng nang và được lót bằng một lớp tế bào hình khối là những tế bào bài tiết hormone vào lòng nang, đáy tế bào tiếp xúc với mao mạch, đỉnh tế bào tiếp xúc với lòng nang.

Tuyến giáp là nơi rất giàu hệ thống mao mạch, trong mỗi phút lượng máu đến tuyến giáp rất lớn, đây là nơi được cung cấp máu nhiều nhất trong cơ thể (ngoại trừ tuyến vỏ thượng thận).

Các tế bào lót nang giáp bài tiết hai hormon là triiodothyronin (T3) và tetraiodothyronin (T4). Những hormon này có nhiều chức năng quan trọng đặc biệt là chức năng chuyển hóa.

Ngoài ra các nang giáp, các tế bào cạnh nang bài tiết ra hormon canxitonin là hormon tham gia trong chuyển hóa canxi.

b. Tác dụng của hormon tuyến giáp

Các hormon của tuyến giáp trạng tham gia và tác động đến nhiều quá trình chuyển hóa của cơ thể như:

Làm tăng tốc độ phát triển

Ở người, tác dụng của hormon tuyến giáp lên sự phát triển của cơ thể chủ yếu thể hiện trong thời kỳ đang lớn của đứa trẻ.

Ở những đứa trẻ bị ưu năng tuyến giáp, sự phát triển của xương nhanh hơn nên đứa trẻ cao sớm hơn so với tuổi nhưng đồng thời xương cũng trưởng thành nhanh hơn, cốt hóa sớm hơn làm cho thời kỳ trưởng thành của đứa trẻ ngắn lại và đứa trẻ có chiều cao của người trưởng thành sớm hơn.

Ở những đứa trẻ bị nhược năng tuyến giáp, mức phát triển sẽ chậm lại, nếu không được phát hiện và điều trị sớm đứa trẻ sẽ bị lùn.

Thúc đẩy sự trưởng thành và phát triển não trong thời kỳ bào thai và trong vài năm đầu sau khi sinh. Nếu lượng hormon tuyến giáp không được bài tiết đủ trong thời kỳ bào thai thì sự phát triển và trưởng thành của não sẽ chậm lại, não của đứa trẻ sẽ nhỏ hơn bình thường. Nếu không được điều trị bằng hormon tuyến giáp ngay sau vài ngày đến vài tuần sau khi sinh thì trí tuệ của đứa trẻ sẽ không phát triển.

Tác dụng đến chuyển hóa tế bào

Hormon tuyến giáp làm tăng hoạt động chuyển hóa của hầu hết các mô trong cơ thể. Mức chuyển hóa cơ sở có thể tăng từ 60-100% trên mức bình thường nếu hormon tuyến giáp được bài tiết nhiều.

Tăng tốc độ các phản ứng hóa học, tăng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn để cung cấp năng lượng.

Tăng số lượng và kích thước các ty thể do đó làm tăng tổng hợp ATP để cung cấp năng lượng cho các hoạt động chức năng của cơ thể. Tuy nhiên sự tăng số lượng và hoạt động của ty thể có thể vừa là nguyên nhân làm tăng hoạt động của các tế bào vừa là kết quả của sự tăng hoạt động của tế bào.

Khi nồng độ hormon tuyến giáp quá cao, các ty thể phồng to sẽ gây ra tình trạng mất cân xứng giữa quá trình oxy hóa và phosphoryl hóa nên một lượng lớn năng lượng sẽ thải dưới dạng nhiệt chứ không được tổng hợp dưới dạng ATP.

Tăng vận chuyển ion qua màng tế bào: hormon tuyến giáp có tác dụng hoạt hóa men Na+K+ - ATPase do đó làm tăng vận chuyển cả ion Na+ và K+ qua màng tế bào của một số mô. Vì quá trình này cần sử dụng năng lượng và tăng sinh nhiệt nên người ta cho rằng đây chính là một trong những cơ chế làm tăng mức chuyển hóa cơ thể của hormon giáp.

Tác dụng đến hệ tim mạch

Tác dụng lên mạch máu:
Hormon giáp làm tăng chuyển hóa của hầu hết tế bào do đó làm tăng mức tiêu thụ oxy đồng thời tăng giải phóng các sản phẩm chuyển hóa cuối cùng. Chính những chất này có tác dụng giãn mạch ở hầu hết các mô trong cơ thể do vậy làm tăng lượng máu đặc biệt lượng máu đến da bởi vì cơ thể có nhu cầu tăng thải nhiệt.

Khi lượng máu đến mô tăng thì lưu lượng tim cũng tăng đôi khi có thể tăng 60% trên mức bình thường nếu hormon tuyến giáp được bài tiết quá nhiều.

Tác dụng lên nhịp tim
Hormon tuyến giáp có tác dụng tăng nhịp tim rõ hơn là tăng lưu lượng tim. Tác dụng này có lẽ do hormon tuyến giáp kích thích trực tiếp lên tim do vậy không chỉ làm tim đập nhanh mà còn làm tim đập mạnh hơn.

Sự đáp ứng nhậy cảm của tim đối với hormon tuyến giáp là một dấu hiệu quan trọng mà các nhà lâm sang hay dùng để đánh giá mức độ bài tiết hormon tuyến giáp.

Tác dụng lên huyết áp
Dưới tác dụng của hormon tuyến giáp thì huyết áp trung bình không thay đổi. Tuy nhiên do tim đập nhanh và mạnh hơn nên huyết áp tâm thu có thể tăng từ 10 - 15mm Hg, ngược lại huyết áp tâm trương lại giảm do giãn mạch ở những người bị ưu năng tuyến giáp.

Tác dụng đến hệ thống thần kinh cơ

Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương
Nhìn chung hormon tuyến giáp có tác dụng thúc đẩy sự phát triển cả về kích thước cả về chức năng của não.

Nhược năng tuyến giáp gây tình trạng chậm chạp trong suy nghĩ. Nếu nhược năng xảy ra lúc mới sinh hoặc vài năm đầu sau khi sinh mà không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến kém phát triển về trí tuệ.

Ưu năng tuyến giáp lại gây trạng thái căng thẳng và có khuynh hướng rối loạn tâm thần như lo lắng quá mức, hoang tưởng.

Tác dụng lên chức năng cơ.
Tăng nhẹ hormon tuyến giáp thường làm cơ tăng phản ứng (vigor) nhưng nếu lượng hormon được bài tiết quá nhiều cơ trở nên yếu vì tăng thoái hóa protein của cơ. Mặt khác nếu thiếu hormon tuyến giáp, cơ trở nên chậm chạp là giãn rất chậm sau khi co.

Một trong những dấu hiệu đặc trưng của ưu năng tuyến giáp là run cơ. Đây không phải là loại run cơ biên độ lớn như run cơ của Pakinson hay run cơ do rét mà là loại run cơ nhanh nhưng nhẹ với tần số 10 - 15 lần trong một phút. Có thể quan sát hiện tượng này dễ hơn khi đặt một tờ giấy lên những ngón tay xòe rộng.

Hiện tượng run cơ có lẽ do các synap của trung tâm điều hòa trương lực cơ ở tủy sống được hoạt hóa quá mức.

Run là một dấu hiệu quan trọng để đánh giá mức độ tác dụng của hormon tuyến giáp đối với hệ thần kinh trung ương.

Tác dụng lên giấc ngủ:
Do hormon tuyến giáp có tác dụng hoạt hóa synap nên những người bị ưu năng tuyến giáp thường rất mệt nhưng lại luôn ở trong tình trạng bị hưng phấn nên rất khó ngủ.

Ngược lại người nhược năng tuyếngiáp lại ngủ nhiều, có thể ngủ tới 12 - 14 giờ trong một ngày.

Tác dụng lên cơ quan sinh dục:
Để có sự phát triển và hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục, tuyến giáp cần hoạt động bình thường.

Ở nam giới thiếu hormon tuyến giáp có thể mất dục tính hoàn toàn, nhưng bài tiết quá nhiều lại gây bất lực.

Ở nữ giới thiếu hormon tuyến giáp thường gây băng kinh, đa kinh nhưng thừa hormon lại gây ít kinh hoặc vô kinh và giảm dục tính.

Tác dụng của hormon tuyến giáp lên chức năng sinh dục không phải là tác dụng đặc hiệu mà có lẽ là sự phối hợp giữa tác dụng kích thích trực tiếp lên chuyển hóa của tuyến sinh dục với tác dụng kích thích hoặc ức chế chức năng sinh dục thông qua hormon tuyến yên.

Ngoài ra hormon tuyến giáp trạng còn tác động đến các quá trình chuyển hóa khác của cơ thể như: tác dụng đến chuyển hóa gluxit, lipit, protein, vitamin.

2. BÊNH BƯỚU CỔ

Bướu cổ là thuật ngữ để chỉ tình trạng tuyến giáp to ra. Bướu cổ là một triệu chứng gặp trong nhiều bệnh khác của tuyến giáp.

Bướu cổ là một bệnh thường do thiếu iod, hay gặp ở một số vùng nhất định (thường trên miền núi) nên còn gọi là bướu cổ địa phương hay bướu cổ đơn thuần. Trong một số trường hợp, bướu cổ là phản ứng của tuyến giáp đối với sự mất cân bằng của nội tiết tuyến giáp.

Bướu cổ đơn thuần thuộc chứng "ANH" trong y học cổ truyền.

- Theo độ lớn có: độ 0, độ 1, độ 2. độ 3.

- Theo tổn thương giải phẫu có: thể lan tỏa (khi nắn bướu mềm đều), thể nhân (trong bướu có một hoặc nhiều nhân).

- Theo chức năng tuyến giáp: bình giáp khi chức năng giáp bình thường; tăng năng giáp khi tuyến giáp bị tăng chức năng; giảm năng giáp khi chức năng này giảm

- Theo nguyên nhân gây bệnh:

Do thiếu iod (bướu cổ địa phương);

Do rối loạn tổng hợp các hormon giáp;

Do các chất gây bướu cổ có trong thuốc, thực phẩm, hợp chất kháng giáp trong thiên nhiên.

Do viêm giáp cấp tính, mãn tính.

Ngoài ra, bướu cổ còn thấy trong một số bệnh khác như trong bệnh Bazodo, ung thu giáp.

Ở Việt Nam, bệnh bướu cổ địa phương là một trong những bệnh mắc phải do thiếu iod. Tới năm 1981, quan niệm mới tập hợp tất cảcác bệnh tật do thiếu iod gây ra trong thuật ngữ là các rối loạn do thiếu iod dẫn đến thiếu hormon tuyến giáp.

Thiếu iod nặng gây xẩy thai, thai chết lưu, dị tật bẩm sinh, tăng tỉ lệ tử vong chu sinh. Gây bệnh đần độn thể thần kinh hoặc thể phù mềm, bệnh bướu cổ địa phương.

Nghiên cứu ở vùng thiếu iod nhẹ người ta cũng thấy tuyến giáp bị kích thích, tăng tỷ lệ thiểu năng giáp sơ sinh, tăng độ tập trung iod phóng xạ ở tuyến giáp dẫn tới tăng nguy cơ bị nhiễm xạ ở tuyến giáp dẫn tới tăng nguy cơ bị nhiễm xạ khi có tai nạn hạt nhân.

Bệnh bướu cổ do thiếu iod hoặc bướu cổ địa phương là bệnh hay gặp nhất và dễ nhận ra nhất trong các rối loạn do thiếu iod.

Các hậu quả khác do thiếu iod:

Trong vùng thiếu iod nhẹ người ta thấy tăng tỉ lệ thiểu năng giáp sơ sinh. Trẻ em sinh ra trong vùng dù thiếu iod nhẹ nhưng chỉ số trí tuệ thấp hơn trẻ không thiếu iod.

Trong vùng thiết iod nặng ở Việt Nam, nhận thấy nhiều thanh niên bị thiểu năng trí tuệ không học được, dù có hoàn cảnh đi học họ cũng không biết chữ, không biết tính cộng trừ. Khoảng 10% trẻ em thuộc lứa tuổi đi học nhưng phải bỏ học vì hậu quả của thiếu iod. Nhiều trẻ em và người lớn bị điếc từ nhẹ đến nặng, nhiều người bị liệt hoặc có tư thế đặc biệt.

Theo y học cổ truyền:

Bướu cổ địa phương hay bướu cổ đơn thuần: do thiếu iod. Ngoài ra còn có các yếu tố khác như di truyền, thiếu một số thức ăn khác, điều kiện vệ sinh kém....nên tuy cũng sống một địa phương mà cũng chỉ một số mắc bệnh.

Bướu cổ tán phát: gặp ở nữ nhiều hơn. Nhiều học giả cho là do phản ứng của tuyến giáp, hoặc bài tiết không đủ, hoặc do nhu cầu tăng, nội tiết tuyến giáp không đủ, tuyến làm việc tăng (phản ứng bù trừ) làm cho tổ chức tuyến tăng sinh phì đại. Những yếu tố có liên quan.

Y học cổ truyền cho rằng chứng "ANH" phát sinh là do liên quan với đất nước nơi ăn ở và tinh chí (trạng thái tinh thần) thay đổi.

Triệu chứng lâm sàng:

Triệu chứng chủ yếu là to tuyến giáp.

Thế phát tán: gặp nhiều ở nữ ở tuổi dậy thì, có thai, cho bú, lúc tắc kinh thường to hơn và qua những kỳ kinh đó tuyến lại nhỏ hơn. Thường tuyến giáp to nhẹ tản mạn, chất mềm và trơn láng. Đến tuổi trung niên về sau bướu cổ có thể cứng và có nổi cục.

Bướu giáp chìm: Bướu cổ nhưng trong lồng ngực sau xương ức. Bướu làm khó chịu mỗi khi nuốt và thở. Bướu trong lồng ngực, X quang thấy như một cục u trung thất.

Bướu dưới lưỡi: Gặp nhiều ở phụ nữ, nằm ở dưới đáy lưỡi, làm cho khó nhai, khó nuốt và khó nói.

Bướu cổ mới bắt đầu nhỏ mặt nhẵn bóng, về sau có thể to lên không giới hạn, cứng thành cục hoặc nang, bề mặt có thể có tĩnh mạch nổi còng quèo. Trường hợp quá to sẽ có hiện tượng chèn ép như: chèn ép khí quản sinh ho, khó thở, vướng cổ, chèn ép thực quản gây khó nuốt, chèn hầu họng thì gây khan giọng...có khí xuất huyết trong nang gây đau và bướu to đột ngột.

Y học cổ truyền cho rằng bệnh này là do khí ứ tán kết, thủ thổ mất thích nghi, ăn uống không điều độ, ảnh hưởng đến chức năng vận hóa của tỳ vị, khiến cho cơ khí không thông, tụ lại thành đàm, khí trệ đàm ngưng, ngăn kết trước cổ hình thành bệnh "ANH" (bướu bướu cổ). Bệnh lâu ngày - từ khí tới huyết - lưu thông ứ trệ dẫn tới đàm khí ứ kết với nhau và bệnh tình tiến triển nặng dần.

AGODIS - sản phẩm từ thiên nhiên, được bào chế dựa trên cơ sở bài thuốc cổ phương, chuyên dùng cho người bị bệnh "ANH", sử dụng hiệu quả trong cả hai trường hợp bướu lan tỏa và bướu nhân. Thành phần của Agodis như sau:

Côn bố (Laminaria japonica); Hải tảo (Herba surgassi);

Mẫu lệ (Coucha ostreae); Bạch tật lệ (Fructus tribuli);

Bạch thược (Radix paconiae); Sinh địa (Rhizoma rehmanniae);

Huyền sâm (Radix scrophulariae); Câu kỳ tử (Fructus lycii);

Ké đầu ngựa (Fructus xanthii); Hoài sơn (Rhizoma dioscoreae).

Công dụng chủ yếu của các vị dược liệu trên như sau:

Câu kỳ tử: có tác dụng bổ thận tráng dương, ích tinh, mạnh gân cốt, liệt dương, đau lưng mỏi gối, ù tai.

Mẫu lệ: Phối hợp với Huyền sâm có tác dụng làm mềm các khối rắn (nhuyễn kiên), tán kết khối dung điều trị bệnh tràng nhạc, u xơ tuyến giáp.

Hải tảo: Có tác dụng nhuyễn kiên, dùng điều trị bệnh bướu cổ, tràng nhạc. Hải tảo giàu iod, chiếm 0.3 - 0.8%.

     


Kỳ tử, Mẫu lệ, Hải tảo

Sinh địa, huyền sâm, hoài sơn: có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, sinh tân dịch bổ tỳ vị.

Ké đầu ngựa: Thanh nhiệt, giải độc, ích khí. Toàn cây có chứa nhiều iod, đặc biệt nhiều trong quả dùng để chữa bướu cổ.

Ké đầu ngựa

Bạch thược: Nhuận gan, dưỡng huyết;

Bạch tật lệ: Tác dụng vào kinh can và phế: bình can, tán phong, thắng thấp, hành huyết, chữa đau đầu, nhức mắt, nhiều nước mắt, phòng ngừa tích tụ.

Côn bố: có vị mặn, tính hàn, có tác dụng làm mềm các chỗ cứng rắn tích tụ (nhuyễn kiên), dùng chữa bệnh tràng nhạc, bướu cổ, tích tụ, sưng đau dịch hoàn.

Côn bố

Khi bào chế và phối ngũ các dược thảo trên để tạo thành sản phẩm Agodis có tác dụng bổ sung thêm nguồn iod tự nhiên cho con người, dùng để phòng ngừa và chữa bướu cổ. Agodis dùng dài ngày có công dụng làm mềm khối u cục tích tụ trong cơ thể, thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, điều hòa chức năng tuyến giáp, giúp cơ thể lập lại cân bằng chuyển hóa iod, khi vào cơ thể dễ hấp thu và đảm bảo an toàn.

Agodis - Giải pháp cho việc phòng và hỗ trợ điều trị bướu cổ đơn thuần và rối loạn chuyển hóa iod

Nguồn tin:    Theo http://www.biosmark.com.vn/
Các bài khác